126 
 
Theo Y học cổ truyền , bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thuộc phạm vi các chứng 
như: “Đàm ẩm”, “Khái thấu”, “Khái suyễn”  ... Trong đó hai chứng “Khái th ấu” và 
“Khái suyễn” thường được liên hệ nhiều hơn cả. Hai chứng này được nói đến rất sớm 
trong câu y văn cổ như “Hoàng đế nội kinh", “Kim quỹ yếu lược”. 
Khái là ho có tiếng, mà không có đờm. Thấu là ho có đờm nhiều. Khái thấu là ho 
vừa có tiếng, vừa có đờm . Trong thực tế lâm sàng nhiều khi rất khó phân ra giữa khái 
và thấu cho nên thường gọi chung là Khái thấu. 
Đàm và ẩm là sản phẩm bệnh lý được hình thành do quá trình rối loạn chuyển 
hóa tân dịch trong cơ thể. Đàm là chất đặc và đục, thuộc dương, ẩm là chấ t trong và 
loãng thuộc âm. Sau khi hình thành, đàm và ẩm theo khí đi đến các bộ phận gây ra 
chứng “Đàm ẩm”. 
Suyễn là chỉ tình hình khó thở mà nguyên nhân cơ bản do suy giảm chức năng 
của tạng phế và tạng thận. Khi khó thở kéo dài kèm theo ho và khạc đờm gọ i là “Khái 
suyễn”, đây là chứng bệnh có biểu hiện lâm sàng rất gần với bệnh phổi tắc nghẽn mạn 
tính. 
II. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN 
1. Nguyên nhân của chứng Khái suyễn trong YHCT: 
1.1. Ngoại cảm: 
Ngoại cảm lục dâm xâm phạm vào phế , khiến cho phế khí không tuyên thông, 
thượng nghịch mà sinh ra chứng khái suyễn. Trong đó trước hết phải nói đến phong tà, 
tiếp đó là hàn, thấp, nhiệt và táo tà. Các tà khí kết hợp với nhau tạo nên nhiều thể bệnh 
như: phong hàn khái suyễn, phong nhiệt khái suyễn, ôn táo khái suyễn... 
1.2. Nội thương: 
Do nhiều yếu tố khác nhau như tiên thiên bất túc, ẩm thực thất điều, tình chí rối 
loạn, phòng dục và lao lực quá độ... làm rối loạn chức năng của các tạng phủ, đặc biệt là 
tỳ, phế, thận mà phát sinh ra chứng Khái suyễn. 
Ngoại cảm khái suyễn lâu ngày sẽ dẫn đến nội thương khái suyễn, đồng thời nội 
thương khái suyễn cũng sẽ làm chính khí suy, s ức đề kháng cơ thể giảm sút, khiến cho 
ngoại tà xâm nhập vào cơ thể tạo ra ngoại cảm khái suyễn. Cuối cùng tạo thành vòng  
xoắn bệnh lý, ngoại cảm và nội thương xen kẽ với nhau, nhiều khi rất khó phân biệt. 
1.3. Bất nội ngoại nhân: 
  Do hút thuốc lá, thuốc lào, làm việc trong môi trường độc hại (công nhân nhà 
máy hóa chất, công nhân làm việc trong hầm lò…), ô nhiễm không khí…  làm tổn 
thương, rối loạn chức năng của phế mà sinh ra chứng Khái suyễn 
2. Cơ chế bệnh sinh của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 
Cơ chế bệnh sinh chủ yếu của khái suyễn là do phế khí mất tuyên thông, đưa đến 
thượng nghịch, làm phát sinh các triệu chứng ho, khạc đờm, khó thở... 
Khi thời tiết lạnh hoặc thay đổi đột ngột, ngoại tà sẽ qua đường mũi hay bì mao 
xâm nhập vào cơ thể, gây tổn thương p hế làm cho phế khí mất túc giáng dẫn đến khái 
suyễn. Nếu bệnh lâu ngày không khỏi, phế khí hư yếu, sẽ ảnh hưởng tới tỳ, t hận. Vệ khí 
bất cố làm bệnh dễ tái phát, dần hình thành chứng khái suyễn. 
Tỳ là gốc của hậu thiên, tỳ hư không thực hiện được công năng  vận hóa thủy cốc, 
làm ảnh hưởng đến khả năng vận hóa các chất tinh vi của thủy cốc, tụ lại mà hóa thành