146
BỆNH TRĨ
(HẠ TRĨ)
I. ĐẠI CƯƠNG
Theo Y học hiện đại, trĩ là những cấu trúc bình thường ở ống hậu môn. Bệnh trĩ
là do những cấu trúc này bị chuyển đổi sang trạng thái bệnh lý do yếu tố cơ học làm
giãn, lỏng lẻo hệ thống nâng đỡ gây sa búi trĩ và yếu tố mạch máu làm gi ãn mạch gây
chảy máu. Nguyên nhân gây bệnh trĩ: táo bón thường xuyên, chế độ ăn uống không phù
hợp, phụ nữ mang thai, đại tiện không đúng (nhịn đại tiện, rặn mạnh khi đại tiện), quan
hệ tình dục qua đường hậu môn, tư thế làm việc không đúng (ngồi lâu, đứng nhiều,
mang vác nặng …), người cao tuổi, thừa cân béo phì, các bệnh lý vùng hậu môn trực
tràng. Chẩn đoán bệnh trĩ dựa và o các triệu chứng lâm sàng và soi hậu môn bằng ống
cứng. Biểu hiện lâm sàng gồm 2 triệu chứng hay gặp nhất: đại tiện ra máu tươi và sa trĩ.
Thăm và soi hậu môn -trực tràng có thể thấy trĩ nội (4 độ), trĩ ngoại, nếp da thừa, sa
niêm mạc chuyển tiếp của vùng lược...
Phân độ trĩ nội: gồm 4 độ theo Hiệp hội tiêu hóa Hoa Kỳ:
- Độ 1: Đại tiện ra máu tươi chiếm 80 - 90%, chỉ đôi khi có hiện tượn g khó chịu, không
thoải mái. Các búi trĩ nhô lên thấy cương tụ máu nhưng không sa khi rặn.
- Độ 2: Triệu chứng chính là đ ại tiện ra máu tươi, búi trĩ sa ra ngoài, khi đại tiện xong
tự co lên. Búi trĩ sa khi rặn và tự co lên được.
- Độ 3: Xuất hiện các búi trĩ nội khá lớn, đôi khi không còn rõ ranh giới giữa các búi trĩ
nội và ngoại như vậy trở thành một búi trĩ hỗn hợp. Các búi trĩ sa khi rặn không tự co
lên được, nhưng có thể đẩy vào được.
- Độ 4: Các búi trĩ sa thường xuyên và không đẩy lên được.
Theo Y h ọc cổ truyền, bệnh trĩ hậu môn nằm trong chứng Hạ trĩ. Các sách cổ
chia làm 5 loại trĩ: Mẫu Trĩ, Tẫn Trĩ, Trường Trĩ , Mạch Trĩ, Huyết Trĩ. Sách “Tế Sinh
Phương” viết: “Đa số do ăn uống không điều độ, uống rượu quá mức, ăn nhiều thức ăn
béo, ngồi lâu làm ch o thấp tụ lại, mót đi tiêu mà không đi ngay, hoặc là Dương minh
phủ không điều hòa, quan lạc bị bế tắc, phong nhiệt không lưu thông gây nên ngũ trĩ”.
II. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH THEO YHCT
Trong “Trung y ngoại khoa học giảng nghĩa” tóm tắt có các ng uyên nhân sau: về
ăn uống: ăn quá nóng, no đói thất thường, ăn đồ ăn sống lạnh, uống nhiều rượu, ăn béo
ngậy, ăn quá cay; về chế độ sinh hoạt: đứng lâu, ngồi lâu, vác nặng đi xa...; nguyên
nhân khác: ỉa chảy mạn tính, táo bón kéo dài, thể chất quá suy yếu, mang thai nhiều lần.
Các nguyên nhân trên có thể làm khí huyết loạn hành, kinh lạc giao cắt dẫn đến huyết ứ,
trọc khí hạ trú hậu môn gây nên trĩ. Ngoài ra, người bệnh sau khi mắc một số bệnh làm
rối loạn chức năng của các tạng phủ như can, tâm, tỳ, thận ( can khắc tỳ, can tâm thận
âm hư, tâm tỳ hư...) gây khí hư, huyết ứ làm trung khí hư hạ hãm sinh ra hạ trĩ.
III. CÁC THỂ LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN
Với mỗi thể lâm sàng, tùy từng tình trạng bệnh lý của người bệnh, thầy thuốc kê
đơn bài thuốc cổ phương, bài thuốc đối pháp lập phương, bài thuốc nghiệm phương để
gia giảm thành ph ần, khối lượng các v ị thuốc cổ truyền hoặc kê đơn các thành ph ẩm
thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu cho phù hợp với chẩn đoán.