127 
 
đàm. Đồng thời t hận là gốc của tiên thiên, thận dương không được ôn ấm, ảnh hưởng 
đến quá trình khí hóa, vận hóa tân dịch bị suy giảm mà ngưng lại thàn h đàm. Thận âm 
suy tổn, hư hỏa ở hạ tiêu chưng bốc, hun đúc tân dịch, cũng tạo thành đàm. Đàm lưu trệ 
ở phế gây trở tắc k hí đạo, dẫn đến phế khí tuyên giáng thất điều tạo nên các chứng khái 
suyễn. Bởi vậy, người xưa nói: “Thận vi sinh đàm chi bản, tỳ vi si nh đàm chi nguyên, 
phế vi trữ đàm chi khí”, nghĩa là: Thận là gốc của đàm, tỳ là nơi sinh ra đàm, phế là nơi 
trữ đàm. Bên  cạnh đó “Phế bất thường khái, tỳ bất thường cửu khái, thận bất thường 
suyễn”, nghĩa là: Phế không bị tổn thương thì không ho, tỳ không  bị tổn thương thì 
không thể ho kéo dài, thận không bị tổn thương thì không thể khó thở. 
Tham gia vào cơ chế bệnh sinh của khái suyễn, còn phải nói đến 3 yếu tố bệnh lý 
là: đàm, hư và ứ. Đây là sản phẩm bệnh lý do rối loạn chức năng tạng phủ, đồng thời là 
những yếu tố trực tiếp hay gián tiếp gây bệnh. Tỳ hư hay thận hư đều sinh đàm, mặt 
khác không có thấp thì cũng không có đ àm, thấp tà là nội nhân sinh đàm. Hỏa nội sinh 
có thể do táo nhiều từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể, hoặc do hàn uất hóa hỏa, do tình 
chí rối loạn, ăn uống không điều độ... đều có thể kết hợp với đàm thấp, sinh ra đàm hỏa 
gây tắc trở phế lạc, khiến cho phế khí mất tuyên thông mà sinh bệnh. 
Như vậy, khái suyễn là một bệnh mang tính chất hư thực thác tạp mà chủ yếu là 
bản hư tiêu thực (chín h hư, tà thực) và chuyển hóa lẫn nhau. Ngoại cảm khái suyễn 
thuộc thực, nội thương khái suyễn thuộc hư. Bản hư là tạng ph ủ suy hư, mà chủ yếu là 
phế, tỳ, thận. Tiêu thực là đàm trệ, huyết ứ, hỏa uất, khí nghịch... mặt khác người xưa 
còn nói rằng “Kỳ tiêu t ại phế, kỳ bản tại tỳ thận”, ý muốn nhấn mạnh tỳ thận hư, đặc 
biệt là thận hư là nhân tố bệnh lý trọng yếu trong bệnh khái suyễn. 
V. CÁC THỂ LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ 
 Với mỗi thể lâm sàng, tùy từng tình trạng bệnh lý của người bệnh, thầy thuốc kê 
đơn bài thuốc cổ phương, bài thuốc đối pháp lập phương, bài thuốc nghiệm phương để 
gia giảm thành ph ần, khối lượng các v ị thuốc cổ truyền hoặc kê đơn các thành ph ẩm 
thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu cho phù hợp với chẩn đoán. 
Đợt cấp của COPD thường thuộc thể phong nhiệt, phong hàn và khí táo. Nếu 
không phải đợt cấp thì thường được chia làm hai thể phế tỳ hư và phế thận hư. 
1. Thể phong nhiệt 
1.1. Triệu chứng: Ho nhiều, tiếng ho nặng, khạc đờm đặc, vàng, miệng khát, họng đau, 
nước mũi vàng đục. Toàn thân đau  mỏi, sốt cao, ra m ồ hôi, nhức đầu, sợ gió, rêu lư ỡi 
vàng mỏng, mạch phù sác. 
1.2. Chẩn đoán 
- Chẩn đoán bát cương: Biểu thực nhiệt. 
- Chẩn đoán nguyên nhân: Ngoại nhân (phong, nhiệt). 
- Chẩn đoán bệnh danh: Khái thấu. 
1.3. Pháp: Sơ phong thanh nhiệt, tuyên thông phế khí. 
1.4. Phương:  
1.4.1. Điều trị bằng thuốc 
* Thuốc uống trong:  
- Cổ phương: Tang cúc ẩm  
Tang diệp  12g   Cúc hoa  12g